Đại thắng 30/4/1975 - cuộc chiến chấn động địa cầu
Xem thêm
Hành trình đi đến Hiệp định Paris
Chiến Thắng Mùa Xuân năm 1975
Nhận xét
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã lãnh đạo quân và dân miền Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lần lượt làm thất bại các lượt “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, làm nên cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Paris.
Việt Nam, Lào và Campuchia là ba quốc gia - dân tộc trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, chung một dòng sông Mê Kông và đều dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Quá trình xây dựng và phát triển của ba quốc gia có đặc điểm nổi bật: nếu một quốc gia bị xâm lược, thì dù sớm hay muộn hai quốc gia còn lại cũng khó tránh khỏi sự đô hộ của ngoại bang. Bởi vậy, dù tự giác hay không tự giác, nhân dân ba nước phải cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của mỗi dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và Bộ Quốc phòng (BQP), quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân ngụy được quân Mỹ yểm trợ, làm phá sản một bước cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, viết nên một thiên anh hùng ca mang tên “Đường 9-Nam Lào”, tạo thế và lực mới cho cách mạng miền Nam.
Nhằm giành thế chủ động trên chiến trường, tạo thế có lợi trong đàm phán tại Paris, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, lấy Trị-Thiên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu.
Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được chính thức ký kết tại Thủ đô Paris, Cộng hòa Pháp. Đây là kết quả của quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt và phức tạp trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp "vừa đánh vừa đàm".
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 ngày 13/10/1973 giao nhiệm vụ trước mắt cho cách mạng miền Nam là đấu tranh trên ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao một cách hết sức chủ động, linh hoạt, tùy theo từng lúc, từng nơi mà kết hợp giữa các mặt trận đó cho thích hợp, để buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari về Việt Nam.
Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III - năm 1973) tiếp tục khẳng định “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng”.
Mùa khô 1974 - 1975, trên chiến trường B2, quân và dân ta đã mở chiến dịch Đường số 14 - Phước Long và giành thắng lợi to lớn. Đây là chiến thắng quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược, lần đầu tiên giải phóng hoàn toàn một tỉnh ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với nhiều nét nghệ thuật đặc sắc.
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng bắt đầu từ ngày 5 đến ngày 29/3/1975. Bao gồm ba chiến dịch nhỏ: Chiến dịch Trị Thiên - Huế (5/3-26/3), Chiến dịch Nam Ngãi (10/3-26/3) và Chiến dịch Đà Nẵng (26/3-29/3).
Kết thúc chiến dịch, ta đã nhanh chóng giành được thắng lợi dù quân địch vượt trội ta về quân số cũng như vũ khí, trang thiết bị.
Thắng lợi nhanh chóng của Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã tạo nên vùng hậu phương chiến lược hoàn chỉnh, đáp ứng kịp thời việc tăng cường lực lượng, bổ sung vật chất cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Tây Nguyên có vị trí chiến lược rất quan trọng, nên Mỹ-ngụy đã biến nơi đây thành một căn cứ chiến lược lớn, hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, ngăn chặn sự chi viện của ta từ miền Bắc vào và từ rừng núi xuống đồng bằng Khu 5. Lực lượng địch ở Tây Nguyên có Sư đoàn bộ binh 23, bảy tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn, 230 khẩu pháo, 150 máy bay thuộc Quân đoàn 2- Quân khu 2. Nhìn chung, địch bố trí lực lượng mạnh ở khu vực phía bắc Tây Nguyên, còn khu vực phía nam được coi như hậu phương, nên chúng bố trí lực lượng mỏng hơn.
Sáng ngày 26-3, chiến dịch giải phóng Thừa Thiên - Huế kết thúc thắng lợi. Thừa Thiên - Huế hoàn toàn giải phóng! Với thắng lợi này, Quân giải phóng đã đập tan tấm lá chắn mạnh nhất của địch ở phía Bắc, mở toang cánh cửa để tiếp tục phát triển cuộc tiến công về phía Nam, giải phóng thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Trung Trung bộ, làm thất bại ý đồ rút quân co cụm về Đà Nẵng cố thủ của quân đội chính quyền Sài Gòn.
Nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ khắp nơi. Đến 15 giờ ngày 29-3-1975, Quân giải phóng làm chủ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà.
Ngày 21-4, tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống ngụy quyền, bỏ chạy ra nước ngoài. Trần Văn Hương lên thay.
Từ 26 đến 28/4, ta chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự kháng cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn. Địch bị rối loạn hoàn toàn về chiến lược. Từ chiều 28/4, các cánh quân ngụy không còn nhận được lệnh từ Tổng hành dinh và các tướng chỉ huy nữa vì họ đã tháo chạy ra nước ngoài.
Ngày 29/4, quân ta tổng tiến công. Các binh đoàn bộ đội hợp thành tiến công trong hành tiến, tiêu diệt các cánh quân địch ngăn chặn và phản kích, nhằm thẳng các mục tiêu đã được phân công. Sáng 30/4, trong thế thua đã rõ ràng, địch xin ngừng bắn, bộ đội ta vẫn kiên quyết tiến công. Các quân đoàn nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu. 11h30 ngày 30/4, sau khi Dinh Độc Lập thất thủ, Tổng thống ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Xe tăng của ta tiến thẳng vào dinh "Độc lập", bắt toàn bộ chính quyền
Sài Gòn, tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Đó chính là thời khắc báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng.
Cùng lúc đó, một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chỉ huy tiến vào Dinh Độc Lập, nhanh chóng vào phòng Khánh tiết. Tổng thống Dương Văn Minh và các thành viên nội các chính quyền Sài Gòn đầu hàng. Các đồng chí Trung đoàn 66 đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu sang Đài phát thanh Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng.
Phối hợp vối các hướng tiến công dũng mãnh của Quân giải phóng, các tầng lớp quần chúng nhân dân nhiều nơi trong nội đô, được các tổ võ trang công tác của Khu và Thành ủy hướng dẫn, đã nổi dậy chiếm công sở, kêu gọi chính quyền địch đầu hàng, bảo vệ an toàn cơ sở chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.